Mức xử phạt vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ

15/04/2020 01:42 PM


Ngày 01/3/2020 Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH), đưa người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/4/2020, trong đó quy định nhiều mức xử phạt vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Theo đó, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bị xử phạt theo hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung.

Nghị định dành riêng Chương III với 3 điều (Điều 38, 39, 40) quy định cụ thể về các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH. Cụ thể, mức xử phạt vi phạm hành chính sẽ áp dụng từ 15/4/2020 như sau:

* Đối với người sử dụng lao động

1. Phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Hàng năm không niêm yết công khai thông tin BHXH của người lao động do cơ quan BHXH cung cấp theo quy định tại Khoản 7, Điều 23 của Luật BHXH; không thực hiện thủ tục xác nhận về việc đóng BH thất nghiệp cho người lao động để người lao động hoàn thiện hồ sơ hưởng BH thất nghiệp theo quy định; không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về đóng BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp của người lao động hoặc tổ chức Công đoàn yêu cầu.

2. Phạt tiền 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không trả chế độ BH tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tiền do cơ quan BHXH chuyển đến (mức phạt với với mỗi người lao động, nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng).

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đến 4.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

3.1 Không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm nơi đặt trụ sở làm việc của người sử dụng lao động, khi có biến động lao động việc làm tại đơn vị theo quy định của pháp luật.

3.2 Không lập hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng, hợp đồng lao động làm việc hoặc tuyển dụng; không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị đúng thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 102, Khoản 1 Điều 103; Khoản 1 Điều 110; Khoản 2 Điều 112 của Luật BHXH; không giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại Điều 47 của Luật An toàn vệ sinh lao động và Điều 55 của Luật BHXH đi khám giám định suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định Y khoa; Không trả sổ BHXH cho người lao động theo quy định tại khoản 5; Điều 21 Luật BHXH (mức phạt với mỗi hồ sơ).

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi sau đây:

4.1 Không cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan BHXH.

4.2 Làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ BHXH, BH thất nghiệp để trục lợi chế độ BHXH, BH thất nghiệp mà chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng BHXH, BH thất nghiệp làm giả, làm sai lệch nội dung.

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, năng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động mà có hành vi tổ chức triển khai đao tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu mà có hành vi tổ chức triển khai đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu trình độ kỹ năng nghề cho người lao động không đúng phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

6. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

7. Phạt tiền từ 12% đến 15 % tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau: Chậm đóng BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp, đóng BHXH, BH thất nghiệp không đúng mức quy định mà không phải là trốn đóng.

8. Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng tối đa không qua 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng BHXH bắt buộc, BHXH thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

9. Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền hưởng BHXH bắt buộc của người lao động đã chiếm dụng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người có hành vi chiếm dụng tiền hưởng BHXH bắt buộc  của người lao động.

10. Phạt tiền từ 2.000.000 đến 4.000.000 đồng đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp có một trong các hành vi sau đây: Tổ chức dạy nghề không đủ thời gian khóa học mà người lao động tham gia BH thất nghiệp đăng ký đối với mỗi người vi phạm, nhưng tối đa không quá 150.000.000 đồng; thỏa thuận với cá nhân, tổ chức liên quan để trục lợi số tiền hỗ trợ học nghề đối với mỗi trường hợp vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

* Đối với người lao động

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi vi phạm sau đây: Kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai sự thật những nội nội dung có liên quan đến việc hưởng BHXH, BH thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định khi người lao động có việc làm trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp./.

Đỗ Đức Toàn, Phó Trưởng phòng TT&PTĐT